CFD là những công cụ phức tạp và có nguy cơ thua lỗ nhanh chóng do đòn bẩy. 84% tài khoản nhà đầu tư bán lẻ thua lỗ khi giao dịch CFD với nhà cung cấp này. Bạn nên xem xét liệu bạn có hiểu cách hoạt động của CFD hay không và liệu bạn có đủ khả năng chịu rủi ro thua lỗ cao hay không.

Scan to Download iOS&Android APP

Vốn là gì?

Vốn
Share this article

Bạn đang tìm kiếm một định nghĩa về “vốn”? Mô tả rộng nhất về vốn sẽ bao gồm không chỉ tiền mặt trong ngân hàng, vốn cổ phần, vốn vay và tương tự, mà còn bao gồm cả nhà máy, máy móc, kho hàng, xe cộ và thậm chí cả các tên thương hiệu có giá trị. Tuy nhiên, dù việc bao gồm nhóm tài sản thứ hai này trong định nghĩa về vốn là khá hợp lệ, ta sẽ xem xét, một phần lớn, là vào các khía cạnh tài chính của vốn.

Bạn đã nghe nói về từ “vốn” ở đâu?

Câu trả lời ngắn gọn là - ở khắp mọi nơi. Là một nhà đầu tư, bạn sẽ thấy không thể tránh khỏi các đề cập đến vốn, dù trong báo cáo của các công ty mà bạn đang đầu tư hay trên các phương tiện truyền thông tài chính, các hướng dẫn đầu tư hoặc thảo luận với cố vấn tài chính của bạn. Các công ty đầu tư sẽ đề nghị bảo vệ và nâng cao vốn của bạn, trong khi các doanh nghiệp đang tìm cách huy động vốn sẽ thông báo ý định khai thác các sàn giao dịch chứng khoán và thị trường vốn vay. Khi các nhà đầu tư giàu có chạy trốn khỏi một quốc gia, bạn cũng có thể thấy điều này được mô tả là một cuộc ‘tháo chạy vốn'.

Những điều bạn cần biết về vốn...

“Vốn” mô tả tổng trữ lượng của tài sản tài chính có sẵn cho một cá nhân hoặc một doanh nghiệp. Trong trường hợp của cá nhân, cấu trúc của vốn thường khá đơn giản, bao gồm các khoản tiết kiệm ngắn hạn, quỹ hưu trí, tiền mặt trong ngân hàng và giá trị tài chính của các tài sản như nhà gia đình hoặc tài sản khác.

Đối với một công ty, cụm từ “vốn” sẽ khá phức tạp hơn. Điều đầu tiên cần lưu ý là vốn của công ty bao gồm cả tài sản tài chính thuộc sở hữu của công ty, chẳng hạn như tiền gửi ngân hàng và những tài sản mà công ty sẽ phải hoàn trả trong thời gian tới, chẳng hạn như vốn vay được huy động qua việc bán trái phiếu doanh nghiệp.

Điều này có vẻ khó hiểu, vì rất ít hộ gia đình sẽ tính thấu chi hoặc hóa đơn thẻ tín dụng làm tài sản. Nhưng tín dụng là huyết mạch của kinh doanh, và “vốn” được định nghĩa không chỉ là tài sản của công ty, mà còn được định nghĩa là nguồn lực có thể được triển khai bởi công ty được nói đến.

Câu hỏi về vốn cổ phần

Vốn cổ phần là cột sống của cấu trúc tài chính trong công ty hiện đại. Nó không nhất thiết phải được trích dẫn công khai trên sàn giao dịch chứng khoán - thực sự, đã có xu hướng tránh xa phát hành chứng khoán trong các năm gần đây. Nó cũng không cần phải cung cấp phần lớn vốn cho công ty được nói đến.

Vốn cổ phần, nói đơn giản, là một loại hình đầu tư tài chính vào một doanh nghiệp và thường mang quyền sở hữu cho doanh nghiệp đó. Những quyền này có thể được coi là sự bù đắp cho việc là khoản đầu tư sẽ không cần phải được hoàn trả.

Thông thường, vốn cổ phần sẽ được đăng ký ban đầu với những người sáng lập công ty, với mỗi người nhận được cổ phần tương ứng với khoản đầu tư của họ. Sau đó, nếu công ty thành công, một số (hoặc tất cả) cổ phiếu có thể được cung cấp cho công chúng, nhưng nguyên tắc vẫn giữ nguyên – để đổi lại rủi ro mà họ đang nhận, các nhà đầu tư thường (nhưng không phải lúc nào cũng vậy) sẽ được trao một phần quyền sở hữu và kiểm soát doanh nghiệp.

Họ cũng sẽ được hưởng bất kỳ khoản cổ tức nào có thể được trả, mặc dù chúng chỉ có thể được phân phối khi tất cả các nghĩa vụ nợ, chẳng hạn như lãi suất cho các khoản vay, đã được đáp ứng.

Vốn vay, ngắn hạn và dài hạn

Như cái tên đã cho thấy, vốn vay dưới tất cả các hình thức khác nhau của nó, mô tả một khoản vay thuộc loại này hay loại khác. Nó không nhất thiết phải là một khoản vay ngân hàng (dù đây cũng được coi là vốn vay) hoặc không nhất thiết phải là trái phiếu doanh nghiệp có ngày đáo hạn là vài năm trong tương lai (dù những khoản này cũng được tính là vốn vay).

Về cơ bản, vốn vay tạo thành một phần của cấu trúc tài chính của công ty mà sau cùng là nợ cho các chủ nợ bên ngoài, những người cũng sẽ được trả lãi hoặc cổ tức trái phiếu. Không giống như cổ tức trên vốn cổ phần, các khoản thanh toán đến hạn trên vốn vay hầu như luôn luôn cố định.

Các chủ sở hữu nợ, khác với chủ sở hữu vốn cổ phần, thường không được hưởng bất kỳ quyền sở hữu nào trong doanh nghiệp.

Trái phiếu doanh nghiệp có lẽ là loại hình cho vay nổi tiếng nhất cho các công ty. Thị trường vốn vay đã mở rộng đáng kể trong những năm qua, chúng sâu và có tính thanh khoản, cho phép các công ty có uy tín đáp ứng nhu cầu tài chính của họ với chi phí hợp lý.

Các loại nợ doanh nghiệp cũng ngày càng trở nên phức tạp, với các loại trái phiếu hoặc khoản vay khác nhau được hưởng các thứ hạng khác nhau về vị trí của chúng, nếu công ty được nói đến mất khả năng thanh toán và tài sản của nó được chia cho các chủ nợ.

Trong một cấu trúc điển hình, những người nắm giữ các khoản nợ cấp cao sẽ phải trả trước, nợ thứ cấp trả cuối cùng và những người sở hữu 'nợ lửng/mezzanine' (được gọi như vậy vì nó nằm giữa hai khoản nợ trước) sẽ được xếp ở giữa trong thứ tự hoàn trả.

Không có gì đáng ngạc nhiên, những người mua khoản nợ được xếp hạng thấp hơn thường sẽ mong đợi tỉ lệ hoàn vốn cao hơn để bù đắp cho rủi ro lớn hơn.

Ở những nơi khác trên thị trường vốn vay, các công ty có thể tìm kiếm người mua thương phiếu, một công cụ nợ có kỳ hạn ngắn hơn nhiều, về cơ bản là một giấy chứng minh vay một khoản phải trả (IOU payable), thông thường, trong khoảng thời gian 30 hoặc 90 ngày.

Nợ và vốn cổ phần

Mối quan hệ giữa nợ và vốn cổ phần của một công ty được gọi khác nhau là 'vốn vay (gearing)' hoặc 'đòn bẩy (leverage)'. Theo truyền thống, các cố vấn tài chính thích tỷ lệ nợ-vốn cổ phần càng thấp càng tốt, vì nó được coi là một vị trí vốn lành mạnh. Tuy nhiên, quan điểm về mức pha trộn phù hợp giữa mức nợ và vốn cổ phần sẽ khác nhau giữa các công ty và giữa các ngành công nghiệp.

Đôi khi, nợ có thể được trao đổi thành vốn cổ phần. Những người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi có quyền chuyển đổi nợ của họ vào những ngày cố định thành một số vốn cổ phần nhất định, nếu họ muốn.

Đôi khi, một công ty vay quá nhiều sẽ cung cấp cho các chủ nợ của mình một khoản hoán đổi 'nợ lấy vốn cổ phần', thường theo các điều khoản hào phóng khiến cổ phần của các cổ đông hiện tại bị pha loãng rất nhiều.

Vốn lưu động và kinh doanh

Vốn lưu động khác với nợ và vốn cổ phần ở chỗ nó là thước đo tổng thể về tài sản ngắn hạn của công ty, bất kể nguồn gốc của chúng là gì. Việc khấu trừ các khoản nợ ngắn hạn của một doanh nghiệp từ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp đó sẽ cho ta tỷ lệ cho vốn lưu động.

Do đó, bất cứ tỷ lệ nào trên 1 cho thấy công ty đang ở trong tình trạng tốt để trang trải các khoản nợ ngắn hạn và nói chung là trả nợ cho bản thân công ty. Bất cứ tỷ lệ nào dưới 1 nghĩa là công ty có vốn lưu động âm và cũng có thể khó đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình.

Sau cùng thì, việc không thể trả các khoản nợ khi chúng đến hạn là định nghĩa cho việc vỡ nợ.

Cách dùng thứ hai cho tỷ lệ vốn lưu động là để đánh giá hiệu quả của công ty - tỷ lệ quá cao có thể cho thấy rằng công ty chậm chạp trong việc thu thập những khoản nợ của công ty, hoặc thất bại trong việc đầu tư tiền dư thừa - hoặc cả hai điều này.

Vốn giao dịch hoàn toàn khác với các loại vốn khác mà ta đã nói qua, ở chỗ nó đại diện cho các quỹ dành cho việc mua và bán chứng khoán. Dù một doanh nghiệp hoàn toàn có thể nắm giữ vốn giao dịch, nhưng nó thường được liên kết với các nhà giao dịch chứng khoán cá nhân.

Tìm hiểu thêm về vốn...

Bảng chú giải thuật ngữ của chúng tôi  chứa các định nghĩa sâu và chi tiết hơn về nhiều từ ngữ trong bài viết này, bao gồm sàn giao dịch chứng khoán, cổ tức, lãi suất, thời gian đáo hạn và thương phiếu.

Khoản được gọi là vốn kiên nhẫn – là quỹ được dành ra lâu dài để giúp các doanh nghiệp phát triển - đã được thảo luận nhiều trong thời gian gần đây.

Các thuật ngữ liên quan

Bạn vẫn đang tìm một nhà môi giới đáng tin cậy?

Hãy tham gia cùng hơn 485,000 nhà giao dịch đã lựa chọn Capital.com trên khắp thế giới

1. Tạo và xác minh tài khoản của bạn 2. Nạp tiền 3. Tìm giao dịch